Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, cách thành phố Đà Nẵng 70 km về phía tây nam và cách Trà Kiệu khoảng 10 km về phía tây trong một thung lũng kín đáo, Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là Di tích văn hóa thế giới năm 1999. Mỹ Sơn được phát hiện vào năm 1898 bởi học giả người Pháp tên M.C Paris, với hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 13. Trong nhiều thế kỷ, người Chăm đã dựng nên một quần thể kiến trúc độc đáo, liên hoàn: tháp chính thờ một bộ Linga, Yoni - biểu tượng của năng lực sáng tạo hoặc thần Shiva – đấng bảo hộ của các dòng vua Chămpa. Vị thần được tôn thờ ở Mỹ Sơn là Bhadrésvara - vị vua sáng lập ra dòng vua đầu tiên của vùng Amaravati vào cuối thế kỷ 4 kết hợp với tên thần Shiva trở thành tín ngưỡng chính: thờ thần – vua và tổ tiên hoàng tộc. Mỹ Sơn đã trở thành trung tâm kiến trúc quan trọng nhất của vương quốc Chămpa. Trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, hầu hết các đền, tháp tại Mỹ Sơn bị chiến tranh tàn phá nặng nề trong đó có tháp A1 – công trình kiến trúc lớn nhất tại Mỹ Sơn, chỉ còn lại khoảng 20 tháp còn giữ được dáng vẻ ban đầu. Phần lớn các tác phẩm điêu khắc ở Mỹ Sơn được người Pháp cho đem về Đà Nẵng vào những năm đầu thế kỷ 20 và được trưng bày ở bảo tàng điêu khắc Chăm. |
Thị xã Hội An nằm bên cạnh bờ sông Thu Bồn. Nơi đây xưa kia có một thời nổi tiếng với tên gọi Faifo mà các thương nhân Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Italia,… đã biết đến từ thế kỷ XVI, XVII. Từ thời đó, Hội An là trung tâm buôn bán lớn của vùng Đông Nam Á, một thương cảng thịnh vượng và là một trong những trạm đỗ chính của các thương thuyền vùng Viễn Đông. Thị xã có những dãy phố cổ gần như nguyên vẹn, đó là loại nhà hình ống xuyên suốt từ phố nọ sang phố kia. Trong đó có một dãy phố nằm sát ngay bờ sông Hội An. Nhà ở đây toàn bằng gỗ quý, trong nhà treo những bức hoành phi, câu đối, cột nhà chạm trổ hoa văn rất cầu kỳ. Hội An là một bảo tàng sống, khu phố đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào ngày 01 tháng 12 năm1999. |
Chùa Thiên Mụ là một trong những ngôi chùa cổ kính nhất, là biểu tượng của đất kinh thành, tên chùa gắn liền với huyền thoại bà tiên áo đỏ. Tương truyền rằng lúc chú Nguyễn Hoàng vào Đàng trong tìm vùng đất mới cho mình. Một đêm nọ ông ngủ lại trên đồi Hà Khê, phía thượng nguồn sông Hương. Bỗng nhiên một bà cụ áo đỏ, tóc bạc phơ, tay cầm một chiếc đũa tiên, hiện lên nói với chúa rằng: “con hãy thắp một nén hương, đi thẳng về phía đông, khi nén hương tắt ở vị trí nào, đó chính là mảnh đất con đang tìm kiếm” cảm thấy có điều gì đó linh thiêng, ông làm theo lời dặn của bà tiên, cuối cùng ông cũng tìm được vị trí thích hợp phong thủy và đặt nền mỏng xây kinh thành. Hài lòng và biết ơn, chúa Nguyễn quay lại đồi Hà Khê và cho xây miếu thờ người đàn bà báo mộng và đặt tên là Thiên Mụ, về sau vua Gia Long cho xây dựng thành một ngôi chùa khang trang, quy mô và đổi tên thành chùa Linh Mụ, nhưng người Huế vẫn thường gọi bằng cả hai tên. Tháp Phước Duyên là linh hồn của ngôi chùa, từ xa du khách có thể nhìn thấy vòm tháp vươn lên giữa những vòm cây cao, tháp được xây bằng những viên gạch cổ, 7 tầng do vua Thiệu Trị xây vào năm 1844. |
Kinh thành Huế được xây dựng vào năm 1805 theo lốI kiến trúc phương tây kết hợp một cách tài tình vớI kiến trúc thành quách phương đông, Nằm giữa kinh thành là hoàng thành còn được gọi là Đại Nội, là nơi đặt các cơ quan cao nhất của chế độ quân chủ. Huế là vùng đất cổ, có vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam: chúa Nguyễn Hoàng chọn làm kinh đô của xứ Đàng Trong (1558), được vua Quang Trung chọn làm kinh đô của triều đại Tây Sơn (1778-1802), vua Gia Long chọn làm kinh đô của triều Nguyễn (1802-1945) và là trung tâm chính trị, văn hóa của nhà nước phong kiến Việt Nam. Huế có nét văn hóa đặc sắc là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa dân gian và văn hóa cung đình. Những điệu hò, điệu lý dân gian đã được tiếp thu và cải biên phục vụ vua chúa trở thành ca, múa cung đình rồi lại được đưa ra ngoài để trở thành các điệu hát, múa phổ biến cả nước như ca Huế, múa cung đình. Trong hơn 4 thế kỷ tồn tạI, Huế đã trở thành một quần thể các di tích kiến trúc và được UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới vào tháng 12 năm 1993 và ngày 7 tháng 11 năm 2003 Nhã nhạc cung đình Huế lại được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể thế giới. Bên cạnh đó Huế còn được hấp dẫn bởi những món ăn đặc sản: nem lụi, bún bò, bánh chả tôm, cơm hến,… đồng thời Huế còn được biết đến bởi những lăng tẩm của các vua triều Nguyễn. |
|